Đây là một vấn đề lớn và khó, đòi hỏi người tập luyện phải có sự hiểu biết nhất định, và kiên trì luyện tập thì mới thành công. Song bù lại là những quan niệm về vấn đề này từ xa xưa đến bây giờ, từ cổ nhân cho tới các nhà khoa học hiện đại tương đối phù hợp, giúp cho chúng ta những người đi sâu nghiên cứu, tập luyện có nhiều thuận lợi. Nhất là kiên trì luyện tập chúng ta sẽ khỏe mạnh và tăng được tuổi thọ.

Chúng ta đều biết rằng mọi vật trong vũ trụ đều biến đổi không ngừng. Vật chất là vận động. Mọi vật đều tác động qua lại lẫn nhau. Sinh vật nói chung phải trao đổi với môi trường để tồn tại, để hoạt động và để sinh sôi nảy nở. Con người là một loài động vật có xương sống, có vú, cấp cao, lại là một loài vật có đặc tính là: hằng định về một số điều kiện và trạng thái trong nội bộ cơ thể; tim phải luôn luôn co bóp với một nhịp nhất định, phổi phải thở luôn luôn với một nhịp nhất định. Nhiệt độ cơ thể phải bình ổn, các thành phần hóa học của máu, áp suất của máu phải ở trong một tỷ lệ giới hạn nhất định, v.v… Nếu có một biến đổi trong các điều kiện trên là cơ thể chuyển sang trạng thái ốm đau, và có thể chết.

Vì thế cơ thể trong quá trình thích ứng với ngoại cảnh, cơ thể đã xây dựng được một phương thức điều chỉnh hoạt động của các cơ quan, các bộ phận của mình để thích nghi với ngoại cảnh, để đảm bảo hằng tính của môi trường bên trong cơ thể mà các nhà khoa học ngày nay gọi là tính hằng định của nội môi.

Cơ thể điều hòa chức năng bằng hai phương thức: thể dịch, thần kinh.

– Thể dịch là máu và bạch huyết. Máu tuần hoàn khắp cơ thể, qua mọi tế bào, đem O2 và các chất cần thiết cho hoạt động của tế bào, lấy CO2 và các sản phẩm của tế bào. Máu và bạch huyết đóng vai trò vận chuyển vật chất và truyền đạt thông tin khắp cơ thể.

– Thần kinh hoạt động theo phương thức phản xạ. Nhưng bao trùm lên và là một đặc điểm quan trọng bậc nhất là khả năng tự điều chỉnh hoạt động của mình. Trong cơ thể, mọi cơ quan, bộ phận đều có mối quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với nhau. Thí dụ: lượng đường trong máu tăng cao sẽ làm cho tuyến tụy bài tiết in-su-lin, và ngược lại in-su-lin sẽ gây hạ đường huyết làm cho đường huyết hạ xuống; lượng CO2 trong máu tăng cao sẽ kích thích trung tâm hô hấp gây tăng nhịp hô hấp và ngược lại khi nhịp hô hấp tăng sẽ làm cho lượng CO2 trong máu giảm xuống. Đó là tác dụng trở lại còn gọi là cơ chế điều khiển ngược (feed back).

Sự suy giảm khả năng tự điều chỉnh

Phần trên đã trình bầy, con người muốn tồn tại và phát triển phải có sự tự điều chỉnh thường xuyên để đảm bảo sự cân bằng của mọi hoạt động trong cơ thể; đồng thời phải điều chỉnh để cơ thể phù hợp giữa nội môi và ngoại môi. Tuy nhiên đến một chừng mực nào đó sự tự điều chỉnh của cơ thể sẽ suy giảm dần, con người sẽ không tự khắc phục được những tác nhân từ bên ngoài tấn công vào cơ thể, cũng như những chất dư thừa của cơ thể tiết ra gây độc hại cho cơ thể. Bệnh tật sẽ phát sinh, cơ thể càng ngày càng suy yếu, sự tự điều chỉnh càng ngày càng suy giảm…

Những nguyên nhân làm giảm sự tự điều chỉnh:

Mọi cơ thể sống đều gồm những đơn vị cơ bản là tế bào, hay nói cách khác cơ thể của mọi sinh vật đều do các tế bào tạo thành. Trong cơ thể của sinh vật đơn bào, mọi quá trình sống chỉ diễn ra ở một tế bào. Những cơ thể của sinh vật tiến hóa là cơ thể đa bào. Trong cơ thể đa bào có những nhóm tế bào chuyên chức. Ở động vật cấp cao và con người, những nhóm tế bào chuyên chức tập hợp lại thành nhiều hệ thống chuyên chức như hệ thống tiêu hóa, hệ thống tuần hoàn, hệ thống hô hấp, hệ thống tiết niệu, hệ thống sinh dục, hệ thống nội tiết, hệ thống thần kinh, hệ thống vận động v.v…

Về mặt chức năng ta có thể coi tế bào là một đơn vị chức năng của cơ thể. Có những tế bào có nhiều chức năng, nhưng cũng có nhiều loại tế bào cùng làm một chức năng. Nói chung mỗi tế bào có một chức năng chính.

Ở sinh vật đa bào, các tế bào có hai loại: một loại tự phân chia để tạo ra tế bào mới. Một loại không phân chia (tế bào não, tế bào thần kinh).

Như vậy mọi chức năng của các cơ quan bộ phận, các hệ thống đều từ những tế bào đảm trách, Các nhà khoa học đã nghiên cứu thấy rằng: Sự sống của tế bào là sự chuyển hóa. Sự chuyển hóa bao gồm hai vấn đề: Tổng hợp và phân giải. Khi sự chuyển hóa mất ổn định, mất cân bằng, như phân giải nhiều hơn tổng hợp, nhất là khi không đảm bảo được sự chuyển hóa thì khả năng tự điều chỉnh cũng suy giảm và dần dần mất hẳn. Đó là sự già yếu và sẽ dẫn đến tử vong. Như vậy sự suy giảm khả năng tự điều chỉnh bắt nguồn từ tế bào, do sự chuyển hóa của tế bào mất ổn định hoặc mất cân bằng.

Theo quan niệm của cổ nhân sự suy giảm khả năng tự điều chỉnh của cơ thể nguồn gốc chủ yếu từ sự thiếu năng lượng ở các cơ quan bộ phận, nhất là ở não bộ và thần kinh, rồi từ đó dần dần đến các cơ quan bộ phận khác làm cho con người càng ngày càng suy yếu, đã suy yếu thì khả năng tự điều chỉnh lại tiếp tục suy giảm và rồi không phục hồi được nữa.

Có nhiều nguyên nhân, bên trong và bên ngoài làm cho cơ thể thiếu năng lượng, cụ thể là:

* Thất tình

Là 7 tình chí ở bên trong cơ thể con người. Nếu xảy ra sẽ làm suy giảm năng lượng. Khi kéo dài sẽ là những nguyên nhân gây bệnh. Cụ thể là: vui, giận, buồn, lo, nghĩ, kinh, sợ.

* Lục dâm

Đông y gọi là lục tà. Đó là 6 thứ khí thường xuyên tác động vào con người: phong (gió), hàn (lạnh), thử (nắng), thấp (độ ẩm thấp), táo (độ khô), hỏa (nóng).

Những nguyên nhân kể trên sẽ làm suy giảm năng lượng dẫn đến mất cân bằng âm dương, mất cân bằng khí huyết, mất cân bằng chức năng của lục phủ ngũ tạng và các cơ quan bộ phận trong cơ thể. Cơ thể không thể tự điều chỉnh được nữa.

Ngày nay ý kiến các nhà khoa học cũng cho rằng các nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm khả năng tự điều chỉnh của cơ thể bắt nguồn từ tế bào mất khả năng chuyển hóa. Khi tế bào bị rối loạn chuyển hóa tức là các tế bào đã già yếu, khả năng tự điều chỉnh giảm đi không đảm bảo được chức năng của tế bào.

Như vậy các tác nhân sau đây:

  • Tinh thần, thần kinh: tư tưởng không lạc quan, tâm trạng u buồn, bi quan tiêu cực, tinh thần hoang mang, áp lực tinh thần quá lớn, stress.
  • Sinh lý: nội tiết, thần kinh thất thường, chức năng các enzym khác thường, khả năng miễn dịch giảm sút, ba chất thải bị bế tắc: phân, nước tiểu, khí thải. Các gốc tự do phá hoại tế bào. Tế bào mất nước cơ thể không bổ sung được. Các tế bào sinh sản bị giảm sút về số lượng.
  • Thói quen và nếp sống: thức ngủ thất thường, ăn uống không điều độ, suy dinh dưỡng, ít vận động, thiếu ngủ, lao động và nghỉ ngơi không hợp lý, sở thích không lành mạnh.
  • Môi trường: tia phóng xạ, tiếng ồn, nhiệt độ, ánh sáng, không khí, đất, nước, nơi ở.
  • Xã hội: kinh tế, nghề nghiệp, gia đình, chế độ xã hội, hình thái ý thức, tín ngưỡng tôn giáo, địa vị danh lợi, được mất, khen chê.

Tất cả đều dẫn đến tình trạng rối loạn chuyển hóa của tế bào. Tế bào đã bị rối loạn chuyển hóa thì sự tự điều chỉnh cũng không còn và như vậy đã là khởi đầu của sự già yếu. Sự già yếu của sinh vật có nghĩa là giai đoạn mở đầu của sự tử vong.

Sự già, yếu, sống, chết là quy luật tự nhiên của mọi sinh vật, song nếu chúng ta biết được những nguyên nhân, hiểu được cơ chế của quá trình diễn biến của quy luật đó thì chúng ta có thể làm chậm lại.

Đây là mục tiêu của môn pháp Khí công Trường sinh mà cổ nhân thường gọi chung là luyện tập để trường thọ hay luyện tập cải lão hoàn đồng là như vậy.

 

Theo Bác sỹ Hoàng Trọng Việt

Khí công trường sinh tập 1, NXB Văn hóa -Thông tin, 2008