Kết quả chữa bệnh base dow (Cường giáp)  theo phương pháp trợ khí chữa bệnh không dùng thuốc của Khí công trường sinh

Qua quá trình nghiên cứu và ứng dụng khí công Trường sinh để chữa bệnh base dow tại Trung tâm nghiên cứu ứng dụng Khí công dưỡng sinh Viêt Nam, chúng tôi nhận thấy bệnh nhân base dow nếu chữa theo phương pháp Tây y là dùng thuốc để cân bằng lại hệ thống nội tiết trong nhiều trường hợp bệnh cũng có tiến triển tốt.

Tuy nhiên bệnh nhân phải uống rất nhiều loại thuốc trong một thời gian dài ( thường phải hai năm trở lên). Trong nhiều trường hợp khi dừng uống thuốc bệnh lại tái phát. Việc uống thuốc dẫn đến nhiều tác dụng phụ như ảnh hưởng đến gan, thận do các bộ phận này phải làm việc nhiều để đào thải các phần thừa của thuốc không dùng đến, dẫn đến gan thận có khả năng mắc các bệnh như sỏi thận, suy thận,… Đối với bệnh nhân base dow do hormon tuyến giáp (FT3,FT4) cao hơn cho phép dẫn đến gan thận đều bị ảnh hưởng do nhiễm độc, nhiều bệnh nhân không thể điều trị bằng thuốc để điều chỉnh nội tiết ngay mà phải chữa bệnh về gan và thận trước sau đó mới uống thuốc để chữa base dow.

Đối với chữa bệnh không dùng thuốc chỉ bằng trợ khí của môn pháp khí công Trường sinh nhiều bệnh nhân đã được chữa khỏi bệnh base dow ( cường giáp). Điều quan trọng là với phương pháp trợ khí không dùng thuốc này bệnh nhân khỏi bệnh và không phải gánh thêm bất kỳ tác dụng phụ nào. Việc chữa trị cũng  không tốn kém chỉ cần bệnh nhân đến trung tâm để các thầy khí công trợ khí cho hàng ngày. So với thời gian để uống thuốc như phương án chữa bệnh của Tây Y như đã đề cập ở trên thì thời gian trợ khí chữa bệnh của khí công Trường sinh giảm hơn rấtt nhiều lần. Đối với bệnh base dow, thời gian chữa bệnh chia làm 2-3  đợt mỗi đợt khoảng 10-14 buổi ( trong thời gian trợ khí chữa bệnh không dùng thuốc Tây Y) . Sau mỗi đợt bệnh nhân đi khám lại để kiểm tra tiến triển của bệnh để các thầy đưa ra phương án chữa bệnh phù hợp với từng bệnh nhân.

Sau đây là kết quả chữa bệnh base dow bằng phương pháp trợ khí không dùng thuốc của Khí công Trường sinh để độc giả tham khảo

Bệnh này được đặt cùng với các bệnh u bướu vì trong quá trình chữa bệnh bướu cổ đơn thuần thường hay gặp bệnh nhân Base Dow.

Cách chữa bệnh này có những điểm giống với chữa bướu cổ đơn thuần. Đó là tác động vào tuyến giáp, còn những tổn thương ở những bộ phận khác trong cơ thể người bệnh chúng tôi sẽ trình bày ở phần dưới.

Khái niệm chung

Base Dow là bệnh cho đến nay chưa rõ nguyên nhân. Trên lâm sàng biểu hiện bằng các đặc điểm chính: dấu hiệu của nhiễm độc giáp với bướu cổ lan tỏa, bệnh về mắt và bệnh về da.

Người ta chỉ thống kê và tìm hiểu được các hoàn cảnh xuất hiện bệnh. Có rất nhiều, nhưng có thể chia làm hai nhóm:

Các yếu tố khởi phát

    • Yếu tố tâm thần: quan trọng bậc nhất là các chấn thương tâm thần, các choáng cảm xúc, nhất là ở người lớn… Sau đó một thời gian xuất hiện các triệu chứng.

    • Các giai đoạn đặc biệt trong đời sống sinh dục của phụ nữ như tuổi dậy thì, chửa đẻ, sảy thai, mãn kinh. Người ta cho rằng có thể có vai trò của rối loạn về nội tiết tố nữ.

    • Ngoài ra, dùng iode liều cao kéo dài có thể gây bệnh Iode-Base Dow, trường hợp này xảy ra khi điều trị các bướu cổ đơn thuần. Dùng Thyroxin và các chiết xuất giáp gây nên tình trạng tăng năng tuyến giáp vững bền.

Các yếu tố bẩm chất

    • Giới: nữ nhiều rõ rệt.

    • Mọi lứa tuổi đều có thể gặp; người già trên 60 tuổi và trẻ em ít gặp.

    • Cơ địa:

Thần kinh tâm thần: đó là cơ địa sẵn có của rối loạn thực vật thuộc loại cường giao cảm (dễ cảm xúc, tinh thần không ổn định, tim hay hồi hộp, đập nhanh, mặt đỏ bừng, hay sốt nhẹ v.v…). Cơ địa cường giao cảm này lại hay gặp ở nữ giới, bệnh lại hay xảy ra cho nữ giới.

Di truyền: trong một gia đình có nhiều người bị bệnh Base Dow hoặc các bệnh về tuyến giáp khác.

Yếu tố miễn dịch: trong máu bệnh nhân có những tế bào sản sinh ra những kháng thể kích thích tuyến giáp.

Triệu chứng

Triệu chứng lâm sàng

Hội chứng nhiễm độc giáp

Triệu chứng tim mạch (quan trọng nhất)

    • Nhịp tim nhanh là triệu chứng sớm nhất và hầu như bao giờ cũng có. Mạch 100 lần/phút, hoặc hơn, đôi khi có ngoại tâm thu. Bệnh nhân thấy trống ngực, hồi hộp, có lúc khó thở. Nhịp tim nhanh biểu hiện rất không ổn định; xúc động, gắng sức làm mạch nhanh hơn lên. Mạch nhanh thường xuyên kể cả khi nghỉ ngơi, khi ngủ; mạch nhanh là cơ chế bù trừ của cơ thể để thích nghi với lưu lượng tuần hoàn, đáp ứng lại nhu cầu ôxy tăng lên ở tổ chức. Kích động tim mạch hầu như bao giờ cũng có, dấu hiệu các mạch máu bị kích động như mạch máu lớn đập mạnh, rõ (động mạch chủ bụng, động mạch đùi, động mạch cảnh). Nghe tim tiếng tim đập nhanh, mạnh.

    • Huyết áp không ổn định, phần lớn bình thường hoặc hơi giảm, nếu có tăng thì cũng thuộc loại nhẹ, thuộc loại tăng huyết áp do trương lực thần kinh, thất thường lúc cao lúc không. Vì vậy nếu thấy cao huyết áp thường xuyên phải xem như cao huyết áp là một bệnh phối hợp, không phải do nhiễm độc giáp gây nên.

Triệu chứng vận mạch

    • Sợ sóng, thường gặp, có thể tới 90 % các trường hợp.

    • Các cơn giãn mạch làm cho bệnh nhân bừng nóng đỏ mặt, tái mặt, có khi xuất hiện những mảng ban đỏ trên cổ và ngực bệnh nhân.

    • Ra mồ hôi, thường xuyên hoặc từng lúc làm cho bàn tay bệnh nhân ẩm. Các triệu chứng trên thường phối hợp với nhau khi khám thay đôi bàn tay bệnh nhân rất đặc biệt: mềm mại, nóng âm, dâm dập mồ hôi (bàn tay Base dow). Ngoài ra bệnh nhân thường rối loạn điều hòa nhiệt biểu hiện bằng sốt nhẹ.

    • Khát: bệnh nhân thường xuyên thèm uống, dấu hiệu này thường có sớm. Đây là một phản ứng bù trừ lượng nước mất đi rất lớn qua đường da.

Triệu chứng tiêu hóa

Bệnh nhân ăn nhiều, chóng đói mà vẫn gầy rạc. Phân thường nát, lỏng, ỉa chảy nhiều lần, nhiều phân, có khi kéo dài nhiều ngày, phải khám kỹ toàn thân mới phát hiện được (triệu chứng đi ngoài chỉ khỏi hẳn khi chữa bệnh chính).

Triệu chứng toàn thân

Là triệu chứng quan trọng nhất thường gặp (có tới 92% các trường hợp). Tuy bệnh nhân ăn ngon miệng, ăn nhiều nhưng vẫn gầy sút nhanh, mất 5 – 10 kg hoặc hơn sau một vài tháng. Bệnh nhân thường bị teo cơ, rõ ở đại vai, ở vai khá đặc hiệu.

Nhược cơ có thể phát hiện bằng dấu hiệu ghế đẩu (signe nu tabouret) bảo bệnh nhân ngồi trên một ghế thấp khi đứng dậy bệnh nhân phải chống hai tay mới đứng lên được. Càng gầy nhanh bệnh càng nặng, nhưng cũng có khi xuống cân từ từ, xuất hiện sớm cũng có khi muộn.

Các dấu hiệu cường giao cảm

Biểu hiện ngoại vi của các hormon tuyến giáp tiết quá nhiều là: run rất thường gặp, nhỏ nhanh, đều, rõ ở các đầu chi, đặc biệt là các ngón tay, nặng lên khi xúc động.

Các rối loạn về sử sự, rất khêu gợi cho chẩn đoán khi mới tiếp xúc với bệnh nhân như: bệnh nhân bồn chồn không yên, đôi khi vật vã, dễ xúc động, cáu gắt, dễ bị kích động tới mức gây gổ. Trí năng vẫn tốt, bệnh nhân thường hay lo lắng.

BƯỚU CỔ

Có thể không có nhưng rất hiếm khi không.

Bướu cổ thường chỉ to vừa, hoặc hơi to, rất ít khi thật to. Thông thường thuộc loại bướu lan tỏa, to toàn bộ nhưng thường thùy phải to hơn.

Bướu di động theo nhịp nuốt, sờ vào không đau, thường đều đặn, nhẵn, mật độ đàn hồi hoặc chắc, thuộc loại bướu mạch nên sờ vào có thể thấy rung miu (rung tay khi vuốt lưng mèo). Bướu có thể thuộc loại nhu mô, có thể thấy có một nhân hoặc nhiều nhân.

Các biểu hiện ở mắt

Đây là những yếu tố cơ bản của tăng năng giáp Base Dow giúp ta phân biệt với các loại tăng năng giáp của các bệnh khác. Thường xuất hiện cùng với bướu cổ.

Các biểu hiện như:

    • Co cơ mi trên, bệnh nhân nhìn chằm chằm và mắt long lanh.

    • Lồi mắt thực sự. nhãn cầu bị đẩy ra phía trước (do viêm cơ phù nề cơ và tổ chức liên kết ở sau hố mắt).

Tóm lại: để chẩn đoán bệnh ta có thể dựa vào các triệu chứng lâm sàng:

    • Nhịp tim nhanh;

    • Gầy sút cân nhanh;

    • Lồi mắt;

    • Bướu cổ;

    • Run tay chân.

Triệu chứng cận lâm sàng

Xét nghiệm máu để định lượng các hormon tuyến giáp trong huyết thanh:

– T3 toàn phần (TT3) tăng.

Bình thường = 80 – 200 mg/100 ml.

– T4 toàn phần (TT4) tăng.

Bình thường = 5 – 12 micro gam /100 ml. Trong 90% trường hợp tăng năng giáp giá trị này tăng gấp 2 – 3 lần

bình thường.

So sánh giữa hai giá trị trên thì T3 là hormon hoạt động nhất. TSH rất nhạy, xuống thấp tới mức số 0. Hiện nay người ta cho rằng đây là Test giá trị hàng đầu để phát hiện cường tuyến giáp (bình thường = 1,7 micro UI/ml).

Trợ khí chữa bệnh không dùng thuốc của Khí công Trường Sinh

Quan sát thấu thị khí công Trường sinh

Quan sát bình thường thấy mắt lồi, bướu cổ nhỏ hoặc vừa (bướu lan tỏa), người gầy, mắt sáng long lanh, sắc mặt hồng.

Thấu thị: cơ thể dương hóa. Hệ thống nội tiết mất cân đối (nơi kết dương, nơi kết âm). Đặc biệt tuyến yên và tuyến giáp kết dương mạnh.

Chữa bệnh

* Thanh lọc toàn bộ cơ thể bằng CTTB thanh lọc chung toàn cơ thể. Sau đó dùng LTTL thanh lọc riêng não.

Hiệu chỉnh hệ thống luân xa.

* Dùng TLN hoặc TLC kích thích, cân bằng, hóa giải các tuyến nội tiết như: hạch tùng – tuyến yên – tuyến giáp – tuyến ức – hai tuyến thượng thận – tuyến tụy – hai buồng trứng (hoặc hai dịch hoàn) – tử cung.

Nếu trình độ thấu thị tốt và xuất hồn sẽ dùng kỹ thuật vạch đường theo các tuyến như vừa nêu.

* Gọi QCÂK bao bọc toàn bộ cơ thể, hội tụ âm khí vào cơ thể rồi tụ vào mệnh môn để âm khí tự đi vào ngũ tạng, hệ thống nội tiết và toàn cơ thể.

* Gọi LĐ xuất hiện dưới chỗ ngồi của bệnh nhân và gọi CNTL hóa giải bệnh và tạo hào quang cơ thể.