Đông Y định nghĩa là chứng mất ngủ. Y học hiện đại thì quan niệm là sự rối loạn giấc ngủ. Trong các rối loạn giấc ngủ có mất ngủ, ngủ nhiều, rối loạn nhịp thức ngủ, miên hành (mộng du), hoảng sợ trong giấc ngủ, ác mộng.

Khí công không coi là một bệnh, nó có thể là hậu quả của nhiều chứng bệnh khác (hay nói là có nhiều căn nguyên bên ngoài não). Nhưng cũng có thể chỉ có căn nguyên ở não bộ. Lâm sàng đã chỉ rõ, có nhiều biểu hiện khác nhau, mức độ nặng nhẹ cũng khác nhau. Vì vậy, chúng ta thống nhất dùng thuật ngữ là rối loạn giấc ngủ (vừa sát thực tế, vừa nói lên sự biểu hiện đa dạng, lại phù hợp với y học hiện đại).

Theo Đông Y

Đông Y phân biệt nguyên nhân và triệu chứng như sau:

Tâm tỳ yếu

Do lao động hoặc suy nghĩ quá sức. Người bệnh có các triệu chứng: Hoảng hốt, tim hồi hộp hay quên, chân tay rũ mỏi, ăn uống kém sắc mặt vàng úa, không ngủ được.

Thận âm suy kém

Mất ngủ, buồn bực, ù tai, đau lưng, đàn ông kèm theo di tinh, phụ nữ kèm theo bạch đới.

Can, đởm bốc hỏa

Mất ngủ, đầy tức ngực, ợ hơi, cáu gắt, ngủ hay chiêm bao linh tinh.

Vị khí không điều hòa

Mất ngủ có kèm theo đầy tức vùng vị, đầy bụng, ợ hơi. Sau khi khỏi bệnh còn suy yếu không ngủ được

Sau khi khỏi bệnh còn suy yếu, không ngủ được

Không thành một thể riêng đây chỉ là sự ảnh hưởng.

Theo Y học hiện đại

Cơ chế bệnh sinh rối loạn giấc ngủ

Dựa trên cơ sở nghiên cứu chi tiết về chức năng của tổ chức lưới ở thân não và vùng dưới đồi thị.

Người ta đã xác định rằng: hệ thống tổ chức lưới tác động hưng phấn tỏa lên vỏ não sẽ gây ra trạng thái thức. Khi tác động hoạt hóa của tổ chức lưới mất đi, giấc ngủ sẽ xảy ra.

Khi ngủ, quá trình ức chế lan tỏa không chiếm hết toàn bộ vỏ não, mà còn trừ lại các điểm cảnh tỉnh đánh thức người ngủ rất nhanh. Cường độ ức chế ngủ không đủ nên đã xuất hiện các mộng mị trong giấc ngủ nông.

Ở người lớn ngủ kéo dài trong khoảng 8 giờ trải qua hai trạng thái khác nhau: Giấc ngủ chậm và giấc ngủ nhanh. Hai loại giấc ngủ này nối tiếp nhau trong đêm tạo thành nhiều chu kỳ; có 4-6 chu kỳ mỗi đêm, mỗi chu kỳ dài 90- 120 phút, với sự khởi đầu bằng giấc ngủ chậm.

Bản chất sinh lý của giấc ngủ

Ngủ là một trạng thái đặc biệt của cơ thể người, trong giấc ngủ cơ thể không liên lạc với môi trường qua đường thần kinh như bình thường. Phần lớn các cơ quan phân tích, hoặc không hoạt động, hoặc hoạt động ở mức thấp. Bắp cơ mềm. Cơ thể ngủ không đáp ứng với hầu hết các kích thích của môi trường, chỉ còn giữ những hoạt động sinh lý cơ sở như hô hấp, tiêu hóa, bài tiết, tuần hoàn, nhưng ở mức độ thấp. Nhà sinh lý học Pavlov đã xác định bản chất của giấc ngủ là một quá trình ức chế lan khắp vỏ não và lan xuống các cấu trúc dưới vỏ não.

Những yếu tố gây ngủ

Tất cả những yếu tố nào gây ức chế, đều có thể gây ngủ (một tiếng động đều đều, một âm thanh đơn điệu, tác động liên tục, không có ý nghĩa tín hiệu, đều có thể gây ngủ). Khi cơ thể ở trong hoàn cảnh vắng lặng, không có ánh sáng, không có tiếng động cũng đưa lại giấc ngủ. Những tác nhân như: Hoàn cảnh đêm tối, nằm giường êm, ấm, tắt đèn cũng là những kích thích có điều kiện gây ức chế ngủ.

Các rối loạn giấc ngủ

Các rối loạn giấc ngủ liên quan đến thời gian ngủ ngắn, dài, ngủ ngon hay không và giờ giấc ngủ. Nguồn gốc chính là do các rối loạn tâm lý. Các yếu tố cảm xúc. Những hiện tượng ; bất thường xảy ra trong từng giai đoạn của giấc ngủ (Sự phát triển của trẻ nhỏ, ở người lớn thường do tâm lý). Những bệnh thực thể trong cơ thể mà rối loạn giấc ngủ chỉ là một triệu chứng của bệnh.

Mất ngủ

Là thời gian ngủ ít và giấc ngủ chập chờn, không sâu. Có 3 loại mất ngủ: khó vào giấc ngủ, khó duy trì giấc ngủ, thức dậy sớm. Thông thường bệnh nhân than phiền cả 3 hiện tượng trên cùng kết hợp. Mất ngủ thường xảy ra khi bị stress, rối loạn tâm lý do không gặp thuận lợi trong đời sống,… hay xảy ra đối với nữ giới và người già.

Mất ngủ kéo dài làm cho người bệnh sợ hãi, luôn luôn căng thẳng, lo lắng, trầm cảm, hậu quả càng mất ngủ hơn – tạo nên vòng luẩn quẩn. Vì vậy người bệnh thường tìm đến thuốc gây ngủ hoặc rượu hy vọng giúp cho mình ngủ được.

Chẩn đoán:

Dựa vào các tiêu chuẩn sau:

  • Khó khăn khi vào giấc ngủ;
  • Mất ngủ ít nhất 3 lần/tuần trong ít nhất 1 tháng;
  • Lo lắng thiếu ngủ, than phiền trong sinh hoạt, cả ngày và đêm;
  • Mất ngủ là triệu chứng của một bệnh thực thể;
  • Mất ngủ thoáng qua không thể chẩn đoán là mất ngủ, kéo dài vài ngày.

Ngủ nhiều

Đặc điểm: ngủ gà ngủ gật, ngủ suốt ngày, ngủ nhiều lần hoặc ngủ mê mệt.

Chẩn đoán

Ban ngày buồn ngủ quá đáng, (không do thiếu ngủ ban đêm). Ngủ nhiều hàng ngày trong thời gian hơn một tháng hoặc không kéo dài cả tháng nhưng lặp đi lặp lại nhiều lần, kèm theo những ảnh hưởng xấu trong sinh hoạt hàng ngày (không có các bệnh nội khoa trong cơ thể). Cần chẩn đoán phân biệt giữa ngủ nhiều và ngủ rũ. Trong ngủ rũ thường có những triệu chứng đặc biệt như ngủ giữ nguyên tư thế, liệt ngủ, ảo giác, dở ngủ dở thức, ban đêm thức giấc nhiều lần và thời gian ngủ rất ngắn.

Rối loạn nhịp thức ngủ

Mất ngủ trong giai đoạn ngủ bình thường, ngủ nhiều trong giai đoạn thức. Kéo dài trong ít nhất một tháng, hoặc ít hơn nhưng tái diễn nhiều lần.

Mộng du

Thường xảy ra vào 1/3 quãng đầu của giấc ngủ. Bệnh nhân ra khỏi giường, trong tình trạng kém tỉnh táo, giảm các hoạt động, cử động vụng về. Lúc tỉnh dậy bệnh nhân không hề nhớ những sự việc đã xảy ra.

Hoảng sợ trong giấc ngủ

Tái diễn nhiều lần hiện tượng la hét trong khi ngủ. Bệnh nhân lo âu cực độ, kích thích vận động, rối loạn thần kinh thực vật, biểu hiện tim đập nhanh, thở nhanh, giãn đồng tử, vã mồ hôi.

Ác mộng

Là giấc mơ đầy cảnh hãi hùng. Hết cơn mơ, bệnh nhân tỉnh dậy nhanh, định hướng tốt, bệnh nhân nhớ lại chi tiết nội dung của giấc mơ đó và có thể kể lại mọi chi tiết.

Theo Khí công Trường sinh

Từ sự mất cân bằng âm dương, khí huyết ở não bộ, tủy sống, dẫn đến kết khí âm hoặc dương hoặc hỗn hợp cả âm và dương. Cũng có khi, do những tác động của khí âm hoặc khí dương trực tiếp gây nên kết khí và làm cho mất cân bằng. Dù là xảy ra lúc nào cũng đều tăng cường kích thích và giảm ức chế ở não bộ và tủy sống, làm rối loạn hệ thống luân xa (sai lệch vị trí, tán rộng, quay chậm). Não bộ thiếu máu, lưu huyết não kém. Nếu mất cân bằng nặng hơn, luân xa rối loạn trầm trọng, lưu huyết não suy giảm hơn nữa người bệnh sẽ rơi vào tình trạng ngủ gà ngủ gật, dễ ngất xỉu. Nguyên nhân:

  • Mất ngủ là triệu chứng của một bệnh nào đó trong cơ thể (nội tạng, sau khi phẫu thuật, sau khi sinh đẻ…);
  • Do rối loạn hệ thống luân xa (sai lệch vị trí, tán rộng hoặc thu nhỏ, quay nhanh hoặc chậm quá mức);
  • Do mất cân bằng âm dương, khí huyết ở não bộ và tủy sống.

Triệu chứng

  • Khó vào giấc ngủ, đến khi ngủ được thì ngủ lơ mơ hoặc ngủ thiếp đi. Khi tỉnh dậy cảm giác mệt mỏi không thoải mái;
  • Mất ngủ cả đêm kéo dài nhiều ngày;
  • Ngủ được nhưng ngủ không sâu, hay tỉnh giấc, khó ngủ lại;
  • Tình trạng đảo ngược đêm thức, ngày ngủ;
  • Thần sắc kém, ăn kém, cơ thể yếu, mệt mỏi, phản ứng chậm chạp. Nếu kéo dài thì lờ đờ, buồn rầu, lo lắng, thất thần.

Tiến triển

Bệnh diễn biến không ầm ĩ, càng ngày càng nặng thêm. Nếu không được chữa trị cẩn thận, dứt điểm, bệnh nhân sẽ suy yếu và dẫn đến tình trạng ngũ tạng đồng suy, (do mệt mỏi chán ăn, tiêu hóa yếu), thần kinh suy nhược (nhức đầu liên miên, hoặc cảm giác nặng đầu, ngây ngất choáng váng, hoa mắt chóng mặt) huyết áp thấp dần, máu lên não kém, mất tập trung, có khi ngất xỉu. Bệnh nhân tử vong trong tình trạng suy kiệt, hoặc do tai nạn vì mất sự tự điều chỉnh.

Chữa bệnh

* Thanh lọc cơ thể bằng CTTB .

* Hiệu chỉnh các luân xa. Việc làm này rất quan trọng nhiều trường hợp có ý nghĩa quyết định.

* Dùng TLN mê tẩu, cho vào bách hội, vào giữa não xoay mạnh, vừa xoay vừa giãn rộng ra (vượt ra ngoài hộp sọ) từ 3 – 5 lần. Rồi cho thu nhỏ lại chạy xuống tủy sống đến trường cường (chạy lên chạy xuống 3 – 5 lần), cho thoải

ra khỏi bách hội.

ôn Gọi BCTL mê tẩu chụp vào đầu bệnh nhân cho xoay nhiều vòng nhanh dần, khoảng năm phút, cho xoay chậm dần rồi ngừng lại và biến đi, nếu nặng thì lưu lại 12 canh giờ (trường hợp chữa ngày 2 – 3 lần thì không cần lưu lại).

Nếu là triệu chứng của một bệnh thì sau khi chữa rối loạn giấc ngủ phải chữa nguyên nhân (bệnh chính).

Một ngày chữa tối đa 3 lần với khoảng cách đều nhau. Nên có lần tác động trước khi ngủ.