Khái niệm chung
Tuyến giáp là một tuyến nội tiết, nặng không quá 30g, hình móng ngựa, nằm ở phía trước cổ bên dưới sụn thanh quản, ép vào 2 mặt bên của thanh quản, và những vòng đấu của khí quản.
Tuyến gồm hai thùy hai bên còn ở giữa là một eo (được gọi là thùy eo). Hai thùy bên thường không đối xứng, (thùy phải lớn hơn thùy trái) mặt trước bên, nông có thể sờ thấy được. Mặt trong áp vào mặt bên của thanh quản và khí quản, còn mặt sau tiếp xúc với các mạch máu và dây thần kinh của các rãnh bên của cổ. Tuyến giáp có một vỏ bọc mang nhiều mạch máu. Mặt sau các thùy bên liên quan chặt chẽ với tuyến cận giáp và các dây thần kinh quặt ngược (xem hình 1a, 1b).
Từ năm 1909 Marine đã định nghĩa: bướu cổ đơn thuần là tình trạng sưng tuyến giáp mà nguyên nhân không phải do ung thư hoặc viêm nhiễm và cũng không có dấu hiệu tăng năng hoặc thiểu năng tuyến giáp.
![]()
Hình giải phẫu tuyến giáp. Hình 1a
![]()
Vị trí tuyến giáp. Hình 1b
Bệnh thường gặp ở nữ nhiều hơn nam. Trước đây người ta phân biệt:
Bướu cổ địa phương là những bướu cổ xảy ra ở một khu nhất định mà tỷ lệ số dân mắc bệnh ít nhất là 10%, và chúng có nhiều nguyên nhân chung.
vực
Bướu cổ tản phát là bướu cổ xảy ra rải rác cho những người dân ở trong một vùng. Yếu tố gây bệnh không gây bệnh cho nhiều người.
Về sau người ta thấy hợp lý nhất vẫn là sử dụng thuật ngữ bướu cổ đơn thuần để chỉ chung cho cả bướu cổ địa phương và bướu cổ tản phát.
Nguyên nhân gây bướu cổ đơn thuần thì có rất nhiều yếu tố khởi động cho cơ chế sinh bướu cổ đơn thuần:
Các yếu tố nội sinh
Các yếu tố nội sinh chủ yếu tham gia gây nên bướu cổ lẻ tẻ.
- Yếu tố di truyền, thường liên quan đến giới tính (nữ nhiều hơn nam).
- Dị tật bẩm sinh về tổng hợp hormon tuyến giáp, thường liên quan đến tình trạng phù niêm (phù cứng).
- Khuyết tật trong việc thu giữ iodua, biểu hiện bằng suy tuyến giáp nặng (bệnh nhân vừa bướu cổ vừa điếc).
- Vì nguyên nhân nào đó gây thất thoát iode thường dẫn đến bướu cổ trong thời kỳ dậy thì, thai nghén, mãn kinh.
Các yếu tố ngoại sinh
Những yếu tố tham gia vào sự phát sinh bướu cổ địa phương, đó là do sự thiếu hụt iode (sự thiếu hụt iode có thể do ăn uống hàng ngày không đủ lượng cần thiết, thường xuyên ăn những thức ăn ngăn cản ruột hấp thu iode như đậu nành, hoặc làm tăng đào thải iode như củ cải, bắp cải, súp lơ, đậu Hà Lan). Nhu cầu iode cho một người lớn là 100-150 micro gam/ngày. Nếu <100 micro gam/ngày được coi là thiếu iode (đo iode trong nước giải nếu < 100 micro gam/ngày hoặc 100 micro gam/lít được coi là thiếu iode).
Thời cổ người Trung Hoa gọi bướu cổ là bệnh Anh, do ăn nước ở vùng đất đen.
Triệu chứng
Triệu chứng cơ năng
Mới đầu rất ít dấu hiệu để người bệnh chú ý tới bệnh, chỉ khi bệnh nhân tự nhận thấy khó nuốt, hoặc nhìn trong gương thấy cổ hơi to lên một chút mới để ý và đi khám.
Triệu chứng thực thể
Nhin
Phải nhìn cổ bệnh nhân tư thế thẳng và tư thế nghiêng. Ở người lớn cũng như ở trẻ em việc xác định có một bướu cổ không khó lắm. Bướu có thể hơi phồng to có thể to làm cho cổ biến dạng.
Ta có thể chia thành các mức độ như sau:
- Bướu nhỏ (tuyến giáp hơi to hơn bình thường), khó nhận thấy;
- Bướu trung bình: to gấp 2-3 lần thể tích bình thường của tuyến;
- Bướu to: phía trên thì vượt quá bờ trên của sụn giáp, còn phía dưới thì lấn tới đáy cổ, đôi khi chèn ép thần kinh và tĩnh mạch;
- Bướu rất to: phía trên lấn tới góc hàm, phía dưới tới đáy cổ gây chèn ép tĩnh mạch, thần kinh và đường thanh khí quản;
- Bướu khổng lồ: u lấn tới vùng xương chũm, và bờ trước cơ thang.
Để đơn giản và thuận tiện trong việc điều tra, theo tổ chức Y tế thế giới (OMS) người ta chia thành:
- Độ I (IA và IB) được quy ước khi bệnh nhân nhìn thẳng không thấy bướu cổ, chỉ khi bệnh nhân ngửa cổ thăng ra sau mới nghi có bướu cổ và sờ cũng nghi bướu cổ;
- Độ II: Khi bệnh nhân ngước cổ lên ta thấy ngay bướu; – Độ III: Nhìn thấy bướu khi bệnh nhân nhìn thẳng;
- Độ IV: Từ xa nhìn đã thấy bướu.
Sờ
Bệnh nhân ngồi trên ghế, người khám đứng ở phía trước và cả đứng sau bệnh nhân để sờ, có thể xác định được vị trí và mật độ của bướu:
- Mềm trong trường hợp bướu mới phát triển.
- Chắc trong trường hợp mới bắt đầu tăng sinh tổ chức liên kết, mạch máu hoặc trong khi có quá trình quá sản của nhu mô.
- Cứng hoặc cứng như đá.
Tổn thương có thể phân bố, dựa vào sự phân bố để chia ra hai thể:
- Thế bướu lan tỏa: còn gọi là thể nhu mô, u không lớn lắm, thể tích trung bình, nhẵn, đều, mật độ như sờ vào thịt.
- Thể keo: bướu rất to, mềm, sờ thấy lồi lõm không đều, nổi u lên ở bướu
Thế bướu nhân: một hay nhiều nhân, to băng hạt lạc cho tới quả trứng gà hoặc hơn nữa. Cần xác định mật độ cứng mềm của từng nhân. Thường thì loại này là hậu quả của một quá trình phát triển đã lâu, nó cho ta thấy được mức độ trầm trọng của vùng có bướu cổ địa phương:
Nói chung sờ bướu bệnh nhân không đau, không nóng, không nổi hạch cổ ở vùng lân cận bướu. Bướu di động khi bệnh nhân nuốt (để loại trừ những bệnh khác gây sưng tuyến giáp). Ngoài ra trong khi khám cho bệnh nhân cần lưu ý kỹ đến các dấu hiệu chèn ép tại chỗ như: khó nuốt, ho, nấc, co kéo hay khản tiếng.
Triệu chứng cận lâm sàng
Xét nghiệm máu
TSH (thyroid stimulating hormon hoặc thyrotropin). Đây là hormon kích giáp trạng tố của tuyến yên. Có ảnh hưởng đến tất cả các bước trong chuyển hóa của hormon tuyến giáp, hay nói cách khác là có ảnh hưởng đến chuyển hóa của iode.
Bình thường, nồng độ TSH trong máu là 1,7 micro IU/ml theo phương pháp RIA.
T3 hoặc T4 (hormon chính được bài tiết của tuyến giáp là thyroxin. Hai chất chính có tác dụng hormon là diiodothyronin (T3) và tetraiodothyronin (T4)), có nơi gọi là FT3 và FT4 (nồng độ T3, T4 tự do trong máu).
Bình thường thì:
Ta = 0,7 – 2ng/100 ml; T3=0,2-0,6 ng/100 ml máu.
Siêu âm tuyến giáp
Là kỹ thuật thăm dò hình thể tuyến giáp. Người ta sử dụng sóng siêu âm được phát ra từ một đầu dò của máy rồi ghi lại những thông tin dưới dạng sóng hồi âm của chùm sóng siêu âm, (khi đầu dò phát ra sóng siêu âm gặp vật cản là tuyến giáp sẽ phản hồi trở lại, người ta ghi lại những chùm tia phản hồi đó để phân tích những thay đổi bệnh lý của tuyến giáp). Kỹ thuật này hoàn toàn khác với kỹ thuật ghi hình của X.quang, và đồng vị phóng xạ. Cũng là ghi hình nhưng là ghi lại bóng dáng của cấu trúc.
Còn siêu âm là sự ghi hình của năng lượng phản hồi. Khi ta nhìn thấy bằng mắt thường một vật thể ghi trên phim (hoặc giấy) là nhờ ánh sáng bắt nguồn từ một năng lượng phản chiếu từ vật thể đó. Nó phụ thuộc hoàn toàn vào tần số và chiều dài của sóng âm (sóng âm có tần số cao thì sóng ngắn và ngược lại sóng âm có tần số thấp thì sóng dài hơn). Ở Việt Nam siêu âm tuyến giáp bắt đầu từ năm 1982.
Hiện nay có rất nhiều công thức để tính dung tích (thể tích) của tuyến giáp bình thường. Ở đây chúng ta chỉ sử dụng một công thức của giáo sư Gutekusnt.R:
V= 0,479 x a x b x c
Trong đó:
V- Thể tích, dung tích, (volume) = ml; a- Chiều dài của mỗi thùy tuyến giáp; b- Chiều rộng của mỗi thùy tuyến giáp; c- Chiều dày của mỗi thùy tuyến giáp.
Trong trường hợp tuyến giáp dày quá 1 cm thì ta tính tổng khối lượng, còn nếu tuyến giáp < 1 cm, cả hai thùy đều bằng nhau ta chỉ cần đo một thùy rồi nhân đôi là được thể tích (dung tích) tuyến giáp.
Để chính xác ta nên đo cả hai thùy rồi cộng lại.
Dưới đây là bảng tiêu chuẩn dung tích tuyến giáp bình thường (theo giáo sư Gutekunst. R).
Người lớn
|
Người lớn |
Nam |
Nữ |
|
Dung tích tuyến giáp |
25ml |
18ml |
Trẻ em
|
Tuổi |
17 |
16 |
15 |
14 |
13 |
12 |
11 |
10 |
9 |
8 |
7 |
6 |
|
Dung tích tuyến giáp |
16 |
14 |
12 |
10.5 |
9 |
8 |
7 |
6 |
5 |
4.5 |
4 |
3.5 |
Trợ khí chữa bệnh không dùng thuốc của Khí công Trường Sinh
Quan sát thấu thị khí công Trường sinh
Tuyến giáp mầu trắng hơi hồng nhạt, nhẵn và xốp, to về kích cỡ, nổi gồ hoặc phình một hay nhiều nơi có khi toàn bộ cả tuyến. Có nhiều mạch máu.
Hình ảnh quan sát phân biệt khá rõ với các cơ quan, bộ phận bên cạnh. Quan sát kỹ sẽ nhận biết được có nhân hay không, có nhân đặc hay bên trong có dịch.
Phương pháp chữa
* Thanh lọc toàn bộ cơ thể từ trên xuống dưới.
* Tác động tại chỗ. Công cụ có thể sử dụng: gọi TLC tiêu hủy, cho vào tuyến, nơi sưng to trước rồi đến những nơi khác sau. Làm đi làm lại nhiều lần. Sau đó dùng ÔHTCM đặt đúng nơi sưng to hoặc nơi có nhân ra lệnh cho hút mạnh (có thể đặt hai ống hút ở hai thùy hoặc hai nhân). Lưu ống hút ở lại trong 12 canh giờ (khi học cao hơn có thể sử dụng các công cụ cao hơn, hoặc các pháp cao hơn).
* Cân bằng hệ nội tiết (dù nam hay nữ). Cân bằng hệ nội tiết tốt nhất là dùng pháp vạch đường. Nếu không thì dùng TLN hoặc TLC, cho chạy từ hạch tùng – tuyến yên – tuyến giáp – tuyến ức – hai tuyến thượng thận – tuyến tụy – hai buồng trứng (hoặc hai dịch hoàn nếu là nam giới) – tử cung (nếu là nữ giới).
* Tác động tinh – khí – thần. Nếu có bệnh kèm theo thì tác động chữa trước rồi tác động tinh – khí – thần sau (rất cần chú ý khi gặp các bướu cổ to, da cố có màu đỏ thì không nên chữa trị mà chuyển cho Khí công sư có kinh nghiệm xử lý).
Kết quả chữa bệnh bướu cổ theo phương pháp trợ khí chữa bệnh của Khí công trường sinh
Bệnh nhân Phạm Thị Hằng, sinh năm 1963, ở thôn 4 xã Phù Vân, thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà Nam bị bướu cổ từ năm 18 tuổi. Ăn uống hằng ngày chị thường bị nghẹn. Chị Hằng đã uống thuốc nhiều nơi nhưng không khỏi. Sau đó, chị Hằng tham gia học Khí công Trường sinh do các giáo viên Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng khí công dưỡng sinh Việt Nam giảng dạy. Kết quả siêu âm, xét nghiệm máu và các giáo sư kiểm tra bệnh của chị Hằng đã khỏi.
Những người tập luyện Khí công Trường sinh đã tự thực hiện dùng khí công chữa bướu cổ đơn thuần tại thôn Phù Vân 3 và Phù Vân 4 xã Phù Vân, thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà Nam với 32 bệnh nhân. Sau 45 ngày các bệnh nhân tập khí công dưỡng sinh vừa được các thầy khí công tác động trực tiếp vào vùng bệnh, 26 người đã khỏi bệnh, 6 người còn ở độ 1.
Từ kết quả này, Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng khí công dưỡng sinh Việt Nam đã đặt vấn đề nghiên cứu điều trị bướu cổ đơn thuần bằng tác động khí công kết hợp với học tập dưỡng sinh với Trung tâm Tiềm năng con người (thuộc Liên hiệp hội các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam – VUSTA). 29 bệnh nhân chủ yếu là thanh thiếu niên và học sinh phổ thông tự nguyện được chữa bệnh trong đợt này. Trước khi chữa, các bệnh nhân đã được làm đủ các xét nghiệm, siêu âm, phân loại bướu độ 1, độ 2, độ 3.
Kết quả sau 40 ngày luyện khí công, đan điền công, pháp hành khí tự chữa bệnh, pháp thanh khí cân bằng tạng phủ, pháp cân bằng hệ nội tiết, pháp vận chân khí, chân hỏa, thận khí tự hóa giải bướu, âm dương pháp tự chữa bệnh bướu cổ, 24 người hết bướu, 5 người giảm còn độ 1. Kết quả này được so sánh với nhóm đối chứng 12 người điều trị bằng phương pháp khác, kết quả cao hơn, chi phí ít hơn, vẫn đảm bảo được lao động sản xuất và công việc gia đình. Từ kết quả này, Ủy ban nhân dân xã Phù Vân đã đề nghị Trung tâm nghiên cứu Tiềm năng con người tạo điều kiện để Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng khí công dưỡng sinh Việt Nam tiếp tục đề tài với 100 bệnh nhân bướu cổ đơn thuần tại địa phương.
(Trích dẫn từ báo KH&ĐS, số 83 (2010) ngày 10/9/2007, trang 5)
Ngoài ra nhiều bệnh nhân đến với Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng Khí công Dưỡng sinh Việt Nam đã được chữa khỏi bướu cổ bằng phương pháp chỉ trợ khí không dùng thuốc của môn pháp Khí công Trường Sinh tại địa chỉ Ngách 59, Ngõ 12, Đường Khuất Duy Tiến, Thanh Xuân, Hà Nội Điện thoại: 024.35535589
![]()